Header Styles

 

Colors Style

               
 

Custom Color

 

Menu Color

Copyright © 2015. TemPlaza. All Rights Reserved.

Tiêu chí túi ni lông thân thiện môi trường

Tiêu chí túi ni lông thân thiện môi trường

5 Tháng Một, 2018 / 3 Comments / 781 / Tin tức
Facebook It
Tweet It
Pinterest It
Google Plus It

Túi ni lông đã trở nên quen thuộc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng, đặc biệt là trong các hoạt động thương mại dân sinh. Với ưu điểm tiện dụng, khá bền và giá thành thấp, túi nhựa, đặc biệt là các loại túi siêu mỏng được sử dụng phổ biến và hầu như có mặt ở mọi nơi, từ các siêu thị, trung tâm thương mại đến các khu chợ buôn bán nhỏ lẻ.

Do đó, số lượng túi ni lông được sử dụng và thải ra môi trường ngày một gia tăng, gây ô nhiễm nặng nề và trở thành một vấn đề môi trường bức xúc.

Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về số lượng túi ni lông được sử dụng ở Việt Nam, nhưng theo một khảo sát của cơ quan môi trường, trung bình, một người Việt Nam trong 1 năm sử dụng ít nhất 30kg các sản phẩm có nguồn gốc từ nhựa.

Từ năm 2005 đến nay, con số này là 35 kg/người/năm. Năm 2000, trung bình một ngày, Việt Nam xả khoảng 800 tấn rác nhựa ra môi trường. Đến nay, con số đó là 2.500 tấn/ngày và có thể còn lớn hơn.

Theo các nhà khoa học, túi ni lông được làm từ những chất khó phân hủy, khi thải ra môi trường phải mất từ hàng chục năm cho tới một vài thế kỷ mới được phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên.

Sự tồn tại của nó trong môi trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đất và nước, bởi túi ni lông lẫn vào đất sẽ ngăn cản ôxy đi qua đất, gây xói mòn đất, làm cho đất không giữ được nước, dinh dưỡng, từ đó làm cho cây trồng chậm tăng trưởng.

Nghiêm trọng hơn, môi trường đất và nước bị ô nhiễm bởi túi ni lông sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khỏe con người.

Trên thực tế, nhiều loại túi ni lông được làm từ dầu mỏ nguyên chất, khi ngấm vào nguồn nước sẽ xâm nhập vào cơ thể người, gây rối loạn chức năng và dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ.

Túi ni lông làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh, rạch, gây ứ đọng nước thải và ngập úng, dẫn đến sản sinh ra nhiều vi khuẩn gây bệnh.

Nhận thức được tác hại của túi ni lông đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp mạnh để giải quyết vấn đề này, như: Ban hành lệnh cấm sản xuất túi ni lông khó phân hủy, đánh thuế nặng đối với sản xuất túi ni lông khó phân hủy đã được áp dụng tại Đài Loan, Trung Quốc, Vương quốc Anh và một số bang ở Hoa Kỳ, Thụy Sỹ, Nam Phi, Đan Mạch…

Bên cạnh đó, các nước này cũng yêu cầu người tiêu dùng phải trả tiền mua túi ni lông khi mua hàng để khuyến khích người dân tái sử dụng túi ni lông hoặc sử dụng các loại túi thân thiện với môi trường.

Một số quốc gia ở châu Phi, như Uganda, Kenya, Tanzania… cũng có những động thái cấm nhập khẩu, sản xuất, tăng thuế đối với túi ni lông, nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước, các cộng đồng xã hội đã và đang quan tâm tới vấn đề chất thải túi ni lông với nhiều giải pháp được đưa ra áp dụng, bao gồm cả các giải pháp hành chính cũng như các biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tổ chức các chiến dịch truyền thông “nói không với túi ni lông”, “ngày không túi ni lông”, “ngày hội tái chế chất thải” bao gồm cả tái chế túi ni lông… hoặc khuyến khích áp dụng các giải pháp sản xuất túi nhựa tự phân hủy sinh học, túi thân thiện với môi trường ở một số doanh nghiệp… nhằm hạn chế tác động tiêu cực của loại rác thải này tới môi trường.

Sau khi Luật Thuế Bảo vệ môi trường có hiệu lực, việc đánh thuế túi ni lông không thân thiện với môi trường đã được áp dụng. Tuy nhiên, do chưa có tiêu chí rõ ràng cho sản phẩm này nên phần lớn người tiêu dùng còn lúng túng trong việc phân biệt các sản phẩm túi ni lông. Trong khi đó, các doanh nghiệp thì lại sản xuất cầm chừng, chưa muốn chuyển giao công nghệ.

Trước thực trạng đó, ngày 04/7/2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 07/2012/BTNMT quy định tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận túi ni lông thân thiện với môi trường được nhập khẩu, sản xuất và sử dụng tại Việt Nam.

Theo quy định của Thông tư, túi ni lông được cấp Giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện với môi trường phải bảo đảm đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau: Có độ dày một lớp màng lớn hơn 30µm (micrômét), kích thước nhỏ nhất lớn hơn 20cm (xăngtimét) và tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu túi ni lông phải có kế hoạch thu hồi, tái chế; Có khả năng phân hủy sinh học tối thiểu 60% trong thời gian không quá hai (02) năm; Túi ni lông có hàm lượng tối đa cho phép của các kim loại nặng quy định như: Asen (As): 12 mg/kg; Cadimi (Cd): 2 mg/kg; Chì (Pb): 70 mg/kg; Đồng (Cu): 50 mg/kg; Kẽm (Zn): 200 mg/kg; Thủy ngân (Hg): 1 mg/kg; Niken (Ni): 30 mg/kg.

Túi ni lông được sản xuất tại hộ gia đình, tại cơ sở sản xuất tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện với môi trường có hiệu lực không quá 36 tháng, kể từ ngày được cấp và được gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn có hiệu lực không quá 24 tháng, kể từ ngày được gia hạn.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 8 năm 2012. Việc đánh thuế đối với các sản phẩm túi nilon là nhằm hạn chế sử dụng các sản phẩm này, tránh tác hại lớn của chúng với môi trường.

Nhưng dù có đánh thuế cao thế nào, tiêu chí được đưa ra rõ ràng tới đâu mà người dân vẫn chưa có ý thức sử dụng các sản phẩm này thì những quy định trên vẫn khó mà đem lại hiệu quả như mong muốn.

Thu Trang
tapchicongnghiep.vn

NGUY CƠ NHIỄM ĐỘC KHI DÙNG TÚI NILON BỌC THỰC PHẨM TRONG TỦ LẠNH

Leave your comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *